Tài nguyên dạy học

Sắp xếp dữ liệu

Cảm ơn mời bạn vào nhà!

6 khách và 0 thành viên

Xem hàng ngày

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hãy chát với tôi

    • (Nguyễn Thị Thu Hà)

    Ảnh ngẫu nhiên

    Videoplayback_.flv TIEN_NGUOI_DI.swf 1422013.jpg Ngay_tet_que_em_ht.swf Bv4__Copy.swf Baner_Tet_1.swf CHUC_MUNG_NAM_MOI_20136.swf Xuan1.swf HAPPY_NEW_YEAR_ht.swf HappyNewYear_2013.swf GS_2012.jpg New_Folder_22.swf

    Tiết 118 - Nỗi oan hại chồng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hà (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:33' 13-04-2009
    Dung lượng: 10.5 MB
    Số lượt tải: 221
    Số lượt thích: 0 người
    GV: Nguyễn Thị Thu Hà
    Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng

    I. Giới thiệu " Quan Âm Thị Kính" và Chèo cổ
    1. Khái niệm
    Chèo là loại kịch hát, múa dân gian, kể chuyện, diễn tích bằng hình thức sân khấu.
    Tuần Ti - Đào Huế
    Quan Âm Thị Kính
    Trương Viên
    Kim Nham
    2. Nguồn gốc:
    Chèo nảy sinh và được phổ biến rộng rãi ở Bắc Bộ.
    3. Đặc trưng
    + Thể hiện tinh thần đấu tranh và khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp.
    + Là môn nghệ thuật tổng hợp:
    Hát - nhạc - múa - diễn tích.
    + Nhân vật mang tính ước lệ và cách điệu cao.
    3. Đặc trưng
    Thiện Sĩ: Vai thư sinh
    Thị Mầu: Vai nữ lệch
    Mẹ đốp: Vai hề
    Sùng bà: Vai mụ ác
    Thị Kính: Vai nữ chính
    Một số nhân vật trong vở chèo Quan Âm Thị Kính
    Hề chèo
    Quốc Trượng
    Quốc Anh
    Vai thư sinh
    Vai nữ lệch
    Vai hề
    Vai mụ ác
    Vai nữ chính
    II. Tìm hiểu trích đoạn “Nỗi oan hại chồng”
    1. Vị trí của đoạn trích
    “Nỗi oan hại chồng” thuộc phần I của vở chèo, sau líp Vu quy: Thị Kính kết duyên cùng Thiện Sĩ. Mâu thuẫn của vở kịch bắt đầu từ ®©y, mét trong hai nỗi oan cña cuéc đời nµng.
    Một số làn điệu Chèo cổ.
    Hát sử rầu
    Hát sắp chợt
    Hát sử
    Một số làn điệu Chèo cổ.
    Hát sử
    Một số làn điệu Chèo cổ.
    Hát sắp chợt
    Một số làn điệu Chèo cổ.
    Hát sử rầu
    2. Phân tích
    a. Tình cảm của Thị Kính đối với chồng
    ? Người vợ yêu chồng, khát khao hạnh phúc gia đình.
    - Cử chỉ: dọn kỉ, quạt cho chồng.
    - Lời nói:
    "Đạo vợ chồng trăm năm kết tóc
    Trước đẹp mặt chồng, sau đẹp mặt ta".
    b. Thị Kính bị đổ oan giết chồng
    ? Thị Kính rất cô đơn, lẻ loi trong nỗi oan.
    - Thiện Sĩ: nghi ngờ người vợ đức hạnh.
    - Sùng Bà: buộc tội Thị Kính giết chồng.
    Hướng dẫn về nhà
    1. Xem trước phần luyện tập SGK chuẩn bị cho tiết học sau.
    2. Nêu cảm nhận của em về nhân vật Thị Kính.
    3. Tìm đọc và ghi lại một số tác phẩm cùng viết về hình tượng người phụ nữ em đã được học trong chương trình.
    Trích đoạn: “Nỗi oan hại chồng”
    - Tính cách:
    3.Phân tích
    a.Thị Kính trong khung cảnh
    gia đình:
    - Xuất thân:
    nghèo.
    - Hành động : Khâu áo, quạt cho chồng
    - Lời nói:
    "Trước đẹp mặt chồng sau đẹp mặt ta"
    "Dạ thương chồng, lòng thiếp sao an
    Âu dao bén, thiếp xén tày một mực"
    yêu chồng
    đức hạnh, đoan trang, .
    3
    5
    - Hành động : Khâu áo, quạt cho chồng
    "Trước đẹp mặt chồng sau đẹp mặt ta"
    II. Tìm hiểu đoạn trích Nỗi oan hại chồng
    Phân tích đoạn trích
    Trong đoạn trích có mấy nhân vật? Sự tham gia của nhân vật vào tình huống cốt truyện như thế nào?
    Trong đoạn trích có 5 nhân vật: Thiện Sĩ, Thị Kính, Sùng ông, Sùng bà, mãng ông.
    Sùng bà và Thị Kính tham gia vào xung đột nhiều nhất. Sùng bà thuộc kiểu nhân vật mụ ác, đại diện cho tầng lớp phong kiến, địa chủ; Thị Kính là nv nữ chín, đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động
    Lời lẽ mang tính phân biệt đối xử, phân biệt thấp cao, sang hèn rõ rệt
    Quan hệ không còn là mẹ chồng – nàng dâu mà là quan hệ giầu nghèo..
    Mụ hát sắp, nói lệch, múa sắp: Bộc lộ thái độ trấn áp, tàn nhẫn, phũ phàng, giọng điệu kiêu kì, khinh thị người nghèo khổ.
    Mâu thuẫn trong hôn nhân bất bình đằng rất sâu sắc

    4. Xung đột mẹ chồng –nàng dâu biểu hiện
    mâu thuẫn giai cấp trong xã hội xưa
    forward
    forward
    back
    Tổng kết
    Thị Kính là nạn nhân của xã hội, chưa đủ sức để vượt lên hoàn cảnh, bị khuất phục trước hoàn cảnh, đầu hàng số phận và trước tư tưởng đau khổ, nhẫn nhịn của nhà Phật.
    Nhân vật chỉ có những lời oán thán, trách móc, ước muốn thụ động.
    Đoạn trích khẳng định phẩm chất, thông cảm với số phận của con người
    forward
    back
    6. Thị Kính bị đuổi ra khỏi nhà
    Sùng bà giở trò mời Mãng ông sang ăn cỗ
    Thị Kính dẫn cha về: tâm sự, bộc bạch
    Thị kính chào lậy cha mẹ, giả trai đi tu
    2. Giá trị
    Quan âm Thị Kính là một vở chèo cổ của Việt Nam, trong đó có trích đoạn “Nỗi oan hại chồng" được đánh giá là một trong những trích đoạn mẫu mực của chèo cổ Việt Nam.
    a. Thị Kính trong khung cảnh gia đình
    Khung cảnh gia đình hạnh phúc đầm ấm,
    là ước mơ của nhân dân
    Thị Kính rất thương chồng: cử chỉ ân cần,
    dịu dàng (Qua việc chăm sóc chồng, độc thoại )
    Đó là tình cảm chân thành, tự nhiên,
    lo toan của người vợ
    b. Thị Kính trong nỗi oan hại chồng
    Khung cảnh gia đình hạnh phúc đầm ấm,
    là ước mơ của nhân dân
    Thị Kính rất thương chồng: cử chỉ ân cần,
    dịu dàng (Qua việc chăm sóc chồng, độc thoại )
    Đó là tình cảm chân thành, tự nhiên,
    lo toan của người vợ
    Cảnh 1: Thị Kính trong khung cảnh gia đ×nh
    Cảnh 2 : Thị Kính trong nỗi oan hại chồng
    Cảnh 3 : Thị Kính sau khi bị oan
    No_avatar
    bài này quá hay đó không như ngày xưa học buồn ngủ lắm!
    Avatar
    Chèo.
     Lịch sửKinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân[1], một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ 10, sau phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra.Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, họ đã biết biểu diễn các vở chèo đầu tiên trên sân đình. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn.Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sỹ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt nam vào thế kỷ 14. Binh sỹ này vốn là một diễn viên nên đã đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát.Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Do không được triều đình ủng hộ, chèo trở về với những người hâm mộ ban đầu là nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như " title="Tô Thị" class="mw-redirect">Tô Thị, Nhị Độ Mai.
    Avatar

    Các đặc trưng của chèoNội dungKhông giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn. Khát vọng sống thanh bình giữa một xã hội phong kiến đầy bất công. nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác. Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như trong vở Trương Viên. Tính chấtChèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương. Nhân vật trong chèoNhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v...Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.Diễn viên đóng chèo nói chung là những người không chuyên, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hay phường trò..."Hề" là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái cũng như những anh hề trong cung điện của vua chúa Châu Âu. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm :hề áo dài và hề áo ngắn Kỹ thuật kịchĐây là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó.Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu Châu Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật. Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200.

     Tác phẩm Vở chèoMột số vở chèo tiêu biểu:

    1. Bài ca giữ nước
    2. Chu Mãi Thần
    3. Đồng tiền Vạn Lịch
    4. Hoàng Trìu kén vợ
    5. Kim Nham
    6. Lưu Bình Dương Lễ
    7. Nghêu sò ốc hến
    8. Quan Âm Thị Kính
    9. Tuần Ty Đào Huế
    10. Từ Thức gặp tiên
    11. Trần Tử Lệ
    12. Trương Viên
    Trích đoạnMột số trích đoạn tiêu biểu: Thị Mầu lên chùa & Xã trưởng - Mẹ Đốp (vở Quan Âm Thị Kính), Súy Vân giả dại (vở Kim Nham), Đánh ghen (vở Tuần ty Đào Huế), Hồ Nguyệt Cô hóa cáo... Chính vở Tuần ty Đào Huế được trích và phát triển từ vở Chu Mãi Thần mà ra.Giai điệuMột số giai điệu chèo cổ : Quân tử dịch, Sử bằng, Đò đưa, Tò vò, Nhịp đuổi, Du xuân, Đào liễu, Ngâm bốn mùa, Đường trường trong rừng, Tuyết sương, Quá giang...Nghiên cứuNghiên cứu về chèo, Lương Thế Vinh đã viết Hý Phường Phổ Lục. Phân loại chèo Chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý. Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn hay sử dụng là chiếc quạt.Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do Nguyễn Đình Nghi khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ. Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lý những mô hình làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào bổ sung cho hát chèo. Bộ "Tám trận cười" của Nguyễn Đình Nghi gồm những vở nổi tiếng.Chèo chái hê là loại hình dân ca hát vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh, Hà Nội), gồm có các phần:
    1. Giáo roi
    2. Nhị thập tứ hiếu
    3. Múa hát chèo thuyền cạn
    4. Múa hát kể thập ân. Kết thúc chương trình hát chèo chái hê thường là hát quan họ. Sưu tầm
    Avatar
    Các nghệ sĩ nổi tiếng     Các làng chèo nổi tiếngMột trong những làn chèo nổi tiếng nhất là làng chèo Thiết Trụ, hay còn gọi là chiếu chèo làng Thiết Trụ, ở xã Bình Minh, tỉnh Hưng Yên. Đội chèo làng Thiết Trụ được thành lập từ thập niên 1960.Niềm đam mê chèo của người dân thể hiện trong các câu thơ sau:Ăn no rồi lại nằm khoèo Nghe giục trống chèo vỗ bụng đi xem Chẳng thèm ăn chả ăn nem Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo. Từ đầu thế kỷ 20, huyện Mỹ Lộc, Nam Định đã có 3 làng chèo khá nổi tiếng: làng Đặng, làng Quang Sán, làng Nhân Nhuế, xã Mỹ Thuận.Trong thơ của Nguyễn Bính có nhắc đến hội chèo làng ĐặngBữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay  Nhạc cụChèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệtđàn nhị đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trốngchũm chọe. Bộ gõ nếu đầu đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói " phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu v.v...Sưu tầm
    Avatar
    Các tư liệu về  chèo ở đây!
    Avatar
    Bài soạn đẹp và đầu tư rất công phu. Tôi xin cô Hà bài giảng này nhé, Cảm ơn cô thật nhiều!
    Avatar
    Chị Hà ơi! Chị nghe bài hát này nhé
     
    Gửi ý kiến