Gốc > Mỗi tuần một cuốn sách > Văn học Việt Nam >

Nguyễn Thị Thu Hà @ 12:44 13/12/2009
Số lượt xem: 8234
 
THI PHÁP CA DAO : NGUYỄN XUÂN KÍNH

Nguyễn Xuân Kính Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Xuân Kính,Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, 446 trang. Thi pháp ca dao là chuyên luận của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Kính, hiện đang công tác tại Viện Nghiên cứu Văn hóa ( tức Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian trước đây ). Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, công phu về thi pháp ca dao từ trước đến nay. Ngoài Lời nói đầu,Kết luận, Tài liệu tham khảo, chuyên luận gồm 8 chương Chương một. Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao Chương hai. Mấy điều cần lưu ý khi nghiên cứu thi pháp ca dao Chương ba. Ngôn ngữ Chương bốn. Thể thơ Chương năm. Kết cấu Chương sáu. Thời gian và không gian nghệ thuật Chương bảy. Một số biểu tượng,hình ảnh Chương tám. Các yếu tố nghệ thuật trong một chỉnh thể nghệ thuật ca dao. Chương một trình bày những khái niệm cơ bản của thi pháp học cũng như quá trình tiếp thu và vận dụng thi pháp học vào đời sống học thuật Việt Nam . Tôi nghĩ, đó là gợi ý cho một đề tài về việc tiếp nhận thi pháp học tại Việt Nam . Nếu như ở lần xuất bản năm 1992, bàn về mối quan hệ giữa thi pháp học và mỹ học , lý luận văn học , tác giả đã tán thành quan điểm của M.B. Khraptrenco muốn thi pháp học “… từ chỗ là một bộ phận cấu thành tiến đến trở thành một bộ môn khoa học đồng đẳng với lý luận văn học “ ( trang 24 – bản in năm 1992 ), thì ở lần xuất bản này , quan điểm đó không được nhắc đến. (*) Quan điểm cơ bản của tác giả ở chương hai là“… có thể gọi những hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca, ca dao”(trang 81) Trong chương ba, tác giả cho rằng“…trong ca dao tình yêu có cả văn bản biểu hiện và văn bản tạo hình. […]…Càng xuôi về phía Nam , trong ca dao tình yêu lứa đôi, tỉ lệ số tác phẩm có văn bản biểu hiện càng ít đi”(trang 126). Cũng trong chương này, tác giả nêu ba chủ đề phổ biến trong mảng ca dao có tên riêng chỉ ngươi, trong đó phản ánh tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng là chủ đề phổ biến nhất; châm biếm thói hư tật xấu, hài hước trào lộng và ca ngợi những người có công đức với dân với nước là hai chủ đề còn lại. Về thể thơ, tác giả nhận thấy đại đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát và ông cho rằng tính chất ngắn gọn của ca dao là một đặc điểm chứ không hẳn đã là ưu điểm (trang 222). Lý giải hiện tượng lắp ghép hay là hiện tượng trùng lặp dòng thơ trong bài ca dao, tác giả đã tiếp thu quan điểm của Chu Xuân Diên: hiện tượng trùng lặp là đặc điểm của quá trình sáng tạo ca dao, dân ca, nó có tác dụng đưa đẩy, bắt vần. Khảo sát thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao, tác giả nhận xét “… thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng[…]. Không gian trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hoá, mang tâm trạng, tình cảm chung của nhiều người. ”(trang 307). Tác giả nêu một số biểu tượng, hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong ca dao: cây trúc, cây mai, hoa nhài, con bống, con cò. Theo tác giả, trúc, mai thường được dùng với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ, cho tình duyên. Hoa nhài trong ca dao được hiểu là một thứ hoa đẹp, hoa quý; ngược lại, trong sáng tác của nhà nho thời trung đại, nếu hoa nhài không bị bỏ qua thì lại bị miêu tả với quan niệm xem thường. Đến thời hiện đại, trong thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, hoa nhài lại được xem là loài hoa quý, hoa đẹp như trong ca dao. Biểu tượng con cò trong ca dao, được lý giải như sau: trong kho tàng ca dao người Việt có hai bộ phận nhắc đến con cò. Ở bộ phận thứ nhất, như Vũ Ngọc Phan quan niệm, con cò là hình ảnh của người nông dân xưa. Những lời thuộc bộ phận thứ hai là loại ca dao thanh mà tục, tục mà thanh (trang 350). Chương tám có tiêu đề Các yếu tố nghệ thuật trong một chỉnh thể nghệ thuật ca dao và đây cũng là chương cuối của công trình, tác giả đã phân tích hai lời ca dao gây khá nhiều tranh cãi: Trèo lên cây bưởi hái hoa và Mình nói dối ta mình hãy còn son. Ở phần Kết luận, tác giả đã nêu những ý kiến gây được sự chú ý nơi người đọc, như: “ […] nói đến thi pháp , chúng ta đã có lý khi đề cập đến những vấn đề thuộc về kỹ thuật, kỹ xảo, thao tác và tài năng sáng tạo nghệ thuật. Song để xây dựng những tác phẩm nghệ thuật đích thực, những lời ca dao đặc sắc, nếu chỉ có kỹ thuật tay nghề thì chưa đủ. Trong quá trình sáng tạo thi ca, điều kiện trước hết vẫn là sự chân thật của cảm xúc, là sự rung cảm, sâu sắc, tha thiết của trái tim người nghệ sỹ. [… ]. Mặt khác, để có thể sáng tác thàng công hơn, để có thể cảm thụ và hiểu đúng tác phẩm văn học, người nghệ sỹ và người thưởng thức cần đuọc trang bị kiến thức của khoa học về thi pháp “ ( trang 388 – 389 ). Ở bản in lần này (2004), trừ chương sáu, việc bổ sung, cập nhật thông tin mới đã được thực hiện ở tất cả các chương, phần còn lại. Nếu như ở bản in năm 1992, chuyên luận chỉ có 263 trang, khổ 13x 19cm, thì ở bản in năm 2004 là 446 trang khổ 14,5x 20,5 cm. Ở chương tám, bản in lần này bổ sung thêm lời bài ca dao Mình nói dối ta mình hãy còn son. Phần Tài liệu tham khảo ở năm 1992 là 192, thì ở bản in lần này là 456 đơn vị. 456 đơn vị tài liệu tham khảo này đã bao quát cơ bản những thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước trong lĩnh vực thi pháp văn học dân gian nói chung và thi pháp ca dao nói riêng. Thi pháp ca dao là lĩnh vực mà tác giả đã dày công nghiên cứu từ nhiều năm nay. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Xuân Kính còn là đồng chủ biên của công trình Kho tàng ca dao người Việt và một số công trình khác. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Trần Minh Tuấn Đa Lạt, ngày 10-5-2005 -------------------------------------------- Chú thích (*) Chúng tôi xin dẫn ra đây một quan điểm khác với quan điểm vừa nêu trên đây để bạn đọc tham khảo. Quá trình giới thiệu thi pháp học vào Việt Nam gắn liền với tên tuổi của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, nhưng về vị trí của thi pháp học ông lại có quan điểm khác. Trong Hội thảo Nghiên cứu và Giảng dạy văn học trong các trường đại học, tổ chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 16-11-2001, giáo sư Trần Đình Sử đọc tham luận: Một số suy nghĩ về đổi mới chương trình và nội dung môn lý luộn văn học trong trường đại học; trong đó có đoạn: “ ngày nay, thiết nghĩ không nên đồng nhất lý luận văn học với thi pháp học, bởi lý luận văn học rộng hơn thi pháp học rất nhiều. Trong khi đo, theo chúng tôi hiểu, thi pháp học chỉ là bộ môn nghiên cứu văn học như một nghệ thuật và các hệ thống nghệ thuật ấy trong tiến trình lịch sử bao gồm thi pháp tác phẩm, thể loại, thi pháp tác giả, thi pháp trào lưu.. “. ( in lại trong Một số vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 , trang 43 ).
Nguyễn Thị Thu Hà @ 12:44 13/12/2009
Số lượt xem: 8234
Số lượt thích:
0 người
THI PHÁP CA DAO : NGUYỄN XUÂN KÍNH
- VŨ BẰNG TOÀN TẬP (13/12/09)
- Tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Nội - ThS. Nguyễn Thuý Loan (13/12/09)
- Những Ngõ Phố (Truyện vừa tái bản) - Tô Hoài. (13/12/09)
- THĂNG LONG – HÀ NỘI MỘT NGHÌN SỰ KIỆN LỊCH SỬ (10/10/09)
- Con hổ có lá gan chuột nhắt (25/08/09)
Lời nhắn tin mới nhất