Tài nguyên dạy học

Sắp xếp dữ liệu

Cảm ơn mời bạn vào nhà!

1 khách và 0 thành viên

Xem hàng ngày

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hãy chát với tôi

    • (Nguyễn Thị Thu Hà)

    Ảnh ngẫu nhiên

    TIEN_NGUOI_DI.swf 1422013.jpg Ngay_tet_que_em_ht.swf Bv4__Copy.swf Baner_Tet_1.swf CHUC_MUNG_NAM_MOI_20136.swf Xuan1.swf HAPPY_NEW_YEAR_ht.swf HappyNewYear_2013.swf GS_2012.jpg New_Folder_22.swf 20_11_2012.swf Mp3 Mp3 1581.swf Mp3 Mp3 Mp3 Mp3 Mp3

    Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 7: Một cách tiếp cận văn bản

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Trọng Đức
    Ngày gửi: 07h:37' 18-05-2008
    Dung lượng: 70.0 KB
    Số lượt tải: 581
    Số lượt thích: 0 người
    Một cách tiếp cận văn bản “ ý nghĩa văn chương ” ngữ văn 7.
    A. xuất phát điểm vấn đề:
    Lúc sinh thời tố hữu đã gữi cụ Nguyễn Du nhưng vần thơ xúc động “Tiếng thơ ai động đất trời”
    Vì sao tiếng thơ của cụ Nguyễn Du lại có sức lay động lòng người đến thế.
    Vì sao những kiệt tác văn chương lại có sức sống lâu bền với thời gian đến thế !
    Bài “ ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh sẻ giúp học sinh thấy được điều đó _ cuộc đời không thể thiếu văn chương, văn chương quan tâm đến tất cả những gì thuộc về con người.
    Mặt khác điều đáng lo ngại nhất hiện nay đối với giáo viên dạy bộ môn ngữ văn là cách làm một bài văn nghị luận của học sinh, chính vì vậy những bài văn nghị luận chiếm phần lớn trong chương trình ngữ văn 7 tập 2. Bài “ý nghĩa văn chương” trong chùm văn nghị luận là bài hay và được đưa vào chương trình dạy khó, không những giúp học sinh hiểu được ý nghĩa văn chương, đề cao trân trọng văn chương mà nó còn giúp học sinh học được phong cách nghị luận qua cách viết nghị luận văn chương độc đáo của Hoài Thanh. điều đó tác động đến học sinh ở mức độ nào lại phụ thuộc bài giảng của học sinh. Sau khi nghiên cứu, tìm ra mạch bài để học sinh tiếp thu có hiệu quả tốt, tôi xin được trình bày định hướng khai thác văn bản” ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh.
    B. phần nội dung vấn đề:
    I. khảo sát chương trình.
    Trong chương trình ngữ văn lớp 6 và học kì I lớp 7, học sinh đã được tiếp xúc với văn bản thuộc các thể loại truyện kí ( lọai hinh tự sự) và các thể loại thơ trữ tình, tuỳ bút ( loại hình trữ tình ), phần văn bản nghị luận rất quan trọng chiếm vị trí đặc biệt trong chương trình học kì 2 ở lớp 7 .
    Cụm bài nghị luận được học gồm có 4 bài, qua văn bản “ý nghĩa văn chương” giáo viên phai là cho học sinh nhận ra được phương pháp lập luận ở đây là giải thích ( kết hợp bình luận) về kiểu nghị luận văn chương, từ luận cứ luậ điểm thấy được nghệ thuật lập luận tài tình độc đáo trong phong cách nghị luận của Hoài Thanh, từ đó cảm nhận vè sức mạnh của văn chương đối với con người.
    II. Thực trạng dạy bài thơ:
    Văn bản này thuộc kiểu văn bản nghị luận do vậy khi dạy văn bản này nếu không tìm và hiểu được mạch bài sẻ sa vào dạy văn mà như tập làm văn: khô, cứng nhắc bởi nó liên quan đến luận điểm, luận cứ học sinh sẻ cảm thấy không có sự mượt mà của văn chương trong đó. Nhưng nếu cứ đi tìm ý chi tiết sau đó nâng khái quát vấn đề lên lại dẫn đến không khắc sâu cách lập luận của tác giả và khó đạt được theo mục đích yêu cầu của văn bản. thực tế một số giáo viên chỉ dạy theo mạch 1 trong 2 bài trên . Sách giáo viên ngữ văn 7 tập 2 NXB GD cũng chỉ đi sâu vào lý giải ý nghĩa văn chương mà chưa đề cập đến cách xây dựng luận chứng, luận cứ để làm cơ sở cho luận điểm . Chính vì vậy , tôi đã kết hợp cả hai khía cạnh trên để dẫn dắt học sinh hiểu được quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc cốt yếu nhiệm vụ và tác dụng của văn chương trong lịch sữ loài người. Gợi _ hỏi để học sinh nắm được cách lập luận của Hoài Thanh một mặt đưa các dẫn chứng văn thơ các em đã học ở lớp dưới và ngoài chương trình minh hoạ để tháy được cái hay cái mượt mà và ý nghĩa khi học văn bản nghị luận. Thấy được phần nào cách lập luận độc đáo của Hoài Thanh.
    III. Phần chuẩn bị:
    Một số yếu tố ngoài văn bản mà giáo viên cần nghiên cứu để hỗ trợ cho bài giảng.
    _ Cuộc đời: Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh ngày 15/ 7 /1909 , xã Nghi Trung, Huỵen Nghi Lộc, Tĩnh Nghệ Tĩnh.
    Hoài Thanh xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Bác ruột là cụ Nguyễn Đức Công tham gia phong trào xuất dương hưởng ứng lời hô hào của cụ Phan Bội Châu, sau bị pháp bắn và xử bắn. được nuôi dưỡng trong môi trường yêui nước từ bé, lớn lên đi học ở trường Quốc Học Vinh, anh là một trong nh ững học sinh hăng hái tham gia hoạt động yêu nước trong nhà trường. Năm 1927 than gia đảng Tân VIệt. Năm 1929 tổ chức vỡ, anh bị bắt khi đang theo học trường bưởi, sau đó bị trục xuất về quê. đó cũng là những năm phong trào chống pháp bị khủng bố mạnh. Cuộc bạo động Yên Thế và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh lần lượt thất bại. Người thanh niên yêu nước những yếu đuối ấy mất phương hướng, hoang mang, không tìm thấy ngõ thoát. Giữa lúc đó, văn chương lãng mạn ra đời. Thế là như người chết vớ được cọc, anh lao vào văn chương, tính lấy chuyện văn chương làm cứu cánh cuộc đời, những tưỡng đấy cũng là một ccáh để chứng tỏ lòng tha thiết với giống nòi, với đất nước “ có thể nói tôi đã tìm thấy ở đó có một chút vui, chút ánh sáng. Tôi bỗng phát hiện ra rằng không đánh tây, không làm cách mạng, vẫn có một con đường sống, vẫn có thể làm được việc này việc nọ ”.
    Ông là một trong những người tham gia, có thể nối là kiên nhẫn nhất, cuộc tranh luận về nghiệ thuật vào nhưng năm 30. Ông rất say mê văn chương ông yêu nghệ thuật như một lý tưởng, có quan điểm hẳn hoi, chứ không phải yêu nước vu vơ, gặp hay chăng chớ.
    Cách mạng tháng 8 bùng nổ. Hoài Thanh cùng với nhiều nhà văn khác hào hứng đi theo cách mạng. Cách mạng đã đổi cách sống của nhà văn, do đó đổi cả cách nhìn cách cảm nghĩ đậm màu sắc tiểu tư sản của ông xưa kia. Hoài Thanh giờ đây mới cảm thấy thực sự sung sướng thỏai mái .
    Hoài Thanh là người khai mạc nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại với Hoài Thanh, ông không muốn ai gọi nhà phê bình nhưng lại làm cái việc không thể gọi khác gì ngoài phê bình. Người ngại lý luận, lại phải làm từ rất sớm công việc lý luận. ông là phê bình tinh tế, tài hoa, nhiều kinh nghiệm có thể keer vào bậc nhất từ cách mạng tháng 8 đến nay.
    Những bài viết, những bài nói, những bài giảng của ông đã góp phần giúp đông đảo bạn đọc cảm nhận được cái hay cái đẹp trong văn thơ của dân tộc, nhất là rong văn thơ hiện đại.
    Hoài Thanh quan niệm văn chươgn chỉ là một bộ phận. Ông muốn giao cho văn chương chỉ riêng mục tiêu tìm cái đẹp, tức là cái ý nghĩa thiêng liêng vượt lên mọi yêu cầu thời thượng để hướng tới các giá trị vĩnh cửu. Và nhờ vậy con người trong văn chương như ông muốn không phải là con người cụ thể mang khuôn mặt đạo đức trang nghiêm của nhà nho hoặc bộ quần áo rách rưới của lao động. Con người đó phải được nâng lên con người viết, con người nhân loại.
    Hoài Thanh luôn luôn khẳng định ông không chủ trương “ nghệ thuật vị nghệ thuật”. Ông muốn văn chương là văn chương. Nếu ở đời này có một điều nghiêm trọng vì luôn luôn đi bên cạnh những sự huyền bí bao trùm người ta và vũ trụ, điều ấy là văn chương. ( ý nghĩa văn chương, sách văn chương hành động).
    Hoài Thanh nói, cảm nhận về cái đẹp và giá trịvăn chương là một chuyện trừu tượng, không dễ do đếm; sơ giảm và thô thiện hoá tác dụng này, đó chính là điều Hoài Thanh không chấp nhận được trong những bài phê phán của ông. Nhưng trừu tượng không phải là thần bí đến độ phải thắp hương tụng niệm, cũng không thể là bất khả tri...
    Ông quan niệm văn chương phải được tự do, tự do trong văn chương cũng có nghĩa là cho nhà văn được thành thực với mình. Nét nỗi bật cũng như phãm chất đáng quý nhất trong con người cũng như trong ngòi bút của Hoài Thanh là sự chân thành.
    Hoài Thanh luôn tìm thơ hay để bình, ông nói những bài nói bài viết của mình là bình thơ, chứ không phải là phê bình. Ông biết dừng lại đúng chỗ để dành phần suy nghĩ cảm xúc người đọc. ông phân tích rạch ròi tác dụng của văn học đói với con người.Ông quan niệm rõ thơ tức là người. “Thích một bài thơ theo tôi nghĩ, trước hết là thích một cách nhìn, một cách nghĩ, một cách cảm xúc, một cách nói, nghĩa là trước hết thích một con người”.Chính vì vậy Hoài Thanh đã tạo được một phong cách riêng đặc sắc , có sức thấm sâu vào tâm hồn người đọc, người nghe. Người ta thường nói đến cái duyên thầm kín đáo mà ý nhị của ông.
    Tác phẩm:
    Hoài Thanh viết không nhiều, vừa phê bình tiểu luận, vừa nghiên cứu bút kí, tất cả 15 tác phẩm. So với những gì ông đã tích luỹ đực trong suốt cuộc đời gắn bó với thơ, ta nghĩo rằng ông có thể viết được nhiều công trình hơn nữa kể cả những công trình có quy mô lớn. Song ông đã không có điều kiện để thực hiện mong ước đó của bạn đọc và của chính ông. Nhưng ông đã để lại trong lòng nhiều thế hệ người đọc ấn tượng, tín nhiệm sâu sắc, đặc bệt làm cho người đọc thấm sâu về ý nghĩa văn chương. Quả thật là tài hoa, độc đáo!
    2.định hướng khai thác bài thơ:
    Sau khi cung cấp những nét cơ bản về tác giả ( vì thời gian theo phân phối chương trình không chỉ đủ đáp ứng truyền thụ kiến thức trên, gioá viên ngoại khoá ngoài giờ).
    Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về văn bản : Đọc văn bản và phần chú thích văn bản.
    Chú ý các từ sau:
    - Cốt yếu: Chính – quan trọng nhất.
    - Công dụng : Lợi ích mang lại khi được đem dùng .
    - Muôn hình vạn trạng: Cuộc sống phong phú muôn hình muôn vẻ đa dạng nhiều dáng vẻ.
    Tác giả: Chốt.
    - Nhà văn , nhà phê bình tài hoa.
    -
     
    Gửi ý kiến
    print